Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh dưỡng cho trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh dưỡng cho trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 11, 2013

Phân loại suy dinh dưỡng trẻ em


Có rất nhiều cách đánh giá và phân loại suy dinh dưỡng trong đó 3 cách phổ biến nhất là : phân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO- 1981), phân loại theo Waterlow (1976), phân loại theo Welcome (1970).


Việt Nam là đất nước có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng cao nhất so với các nước trong khu vực. Trung bình mỗi năm nước ta có khoảng 3 triệu trẻ bị suy dinh dưỡng, nhẹ cân và chậm phát triển.

Theo thống kê của Viện Dinh Dưỡng năm 2010, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em nước ta là 17,5% (chỉ tiêu cân nặng/tuổi), trong đó suy dinh dưỡng vừa (độ I) chiếm 15,4%, suy dinh dưỡng nặng (độ II) chiếm 1,8% và suy dinh dưỡng rất nặng (độ III) chiếm 0,3%. 20/63 tỉnh thành có mức suy dinh dưỡng trẻ em trên 20% (xếp ở mức cao theo phân loại của Tổ chức Y tế thế giới).

Trẻ bị suy dinh dưỡng bao giờ cũng có cân nặng thấp hơn mức bình thường nhưng nếu chỉ dựa vào cân nặng để đánh giá trẻ bị suy dinh dưỡng hay không thì không chính xác. Có rất nhiều cách đánh giá và phân loại suy dinh dưỡng trong đó 3 cách phổ biến nhất là : phân loại theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO- 1981), phân loại theo Waterlow (1976), phân loại theo Welcome (1970).

Phân loại theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO- 1981)

WHO sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi, dựa vào độ lệch chuẩn (SD) so với quần thể tham khảo NCHS (National Centre of Health Statistics) để phân loại mức độ suy dinh dưỡng:

Suy dinh dưỡng độ I: Cân nặng của trẻ dưới - 2SD đến - 3SD tương đương với cân nặng còn 70-80% so với mức bình thường.
Suy dinh dưỡng độ II: Cân nặng của trẻ dưới - 3SD đến - 4SD tương đương với cân nặng còn 60-70% so với mức bình thường.
Suy dinh dưỡng độ III: Cân nặng của trẻ dưới - 4SD tương đương với cân nặng còn dưới 60% so với mức bình thường.

Cách phân loại theo WHO nhanh, đơn giản, phổ biến nhưng không phân biệt được suy dinh dưỡng cấp tính hay mãn tính, không nêu đủ các thể suy dinh dưỡng nặng.

Phân loại theo Waterlow (1976):

Phương pháp này sử dụng hai chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao và chiều cao theo tuổi để phân loại suy dinh dưỡng cấp tính hay mãn tính và suy dinh dưỡng trong quá khứ dựa theo bảng sau:

phân loại suy dinh dưỡng ở trẻ em

Trong đó gầy mòn biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng cấp, còi cọc biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng trong quá khứ, gầy mòn và còi cọc biểu hiện tình trạng suy dinh dưỡng mãn tính.

Phương pháp này áp dụng được trong cộng đồng để bổ sung cho cách phân loại suy dinh dưỡng của WHO nhưng không phân loại được các thể suy dinh dưỡng nặng và mức độ suy dinh dưỡng ở trẻ.

Phân loại theo Wellcome (1970):

Phương pháp phân loại theo Welcome sử dụng chỉ tiêu cân nặng theo tuổi và phù để phân loại thể suy dinh dưỡng nặng.

phân loại suy dinh dưỡng ở trẻ em

Suy dinh dưỡng thể Kwashiokor: trẻ giảm cân kèm theo các triệu chứng rối loạn tiêu hóa, phù chân tay, rối loạn sắc tố da, thiếu máu, nhiễm khuẩn, protid máu toàn phần giảm rõ rệt…

Suy dinh dưỡng thể Marasmus: da bọc xương, da, tóc khô, teo cơ, rối loạn tiêu hóa, thiếu máu, phản ứng chậm, nhiễm khuẩn, chân tay lạnh, hô hấp yếu, nhịp thở nhanh…

Suy dinh dưỡng thể Masasmus-Kwashiokor: (do thiếu hụt cả protid và calo) triệu chứng nặng, cơ thể mất nước, mất chất béo dưới da, hôn mê, chậm phát triển…

Phương pháp phân loại này tiện lợi, phân loại nhanh các thể suy dinh dưỡng nặng nhưng chưa phân loại được suy dinh dưỡng nhẹ và vừa, suy dinh dưỡng cấp và mãn.
                                                                                            
Mỗi phương pháp phân loại có ưu, nhược điểm riêng do đó tùy vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng những cách phân loại khác nhau.

Chế độ dinh dưỡng cho trẻ dưới một tuổi


Dinh dưỡng hợp lý cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho sự phát triển thể chất đặc biệt là chiều cao, trí tuệ, sức khoẻ và hành vi của trẻ sau này.


Không phải bất cứ người mẹ nào cũng có kinh nghiệm về chế độ dinh dưỡng hợp lý cho trẻ đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi. Dinh dưỡng hợp lý cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo cho sự phát triển thể chất đặc biệt là chiều cao, trí tuệ, sức khoẻ và hành vi của trẻ sau này. 

Nhu cầu dinh dưỡng cho trẻ dưới 1 tuổi:


Nhu cầu về dinh dưỡng tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng của trẻ. Đây là một quá trình không đều, mà đôi khi có sự vượt trội khác biệt. Do đó thật khó đoán biết được khi nào con bạn cần nhiều chất dinh dưỡng hơn bình thường hay có vấn đề gì không nếu đôi khi trẻ ăn ít đi một chút? 

Trong độ tuổi này trẻ cần khoảng khoảng 900 calo năng lượng /ngày. Nếu trẻ còn bú sữa mẹ, trẻ chỉ nên cần bổ sung thêm khoảng 550 -600calo/ngày bởi vì trong sữa mẹ đã đáp ứng được khoảng 50 % nhu cầu về năng lượng này. 

Bạn có thể tham khảo bảng dưới đây về nhu cầu dinh dưỡng cần thiết cho trẻ do WHO cung cấp:

Chế đọ dinh dưỡng

Thức ăn cho trẻ nhất thiết phải đa dạng và phong phú, ăn theo mùa để đảm bảo cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho trẻ. Ngoài ra cần cho trẻ ăn theo giờ để có bài tiết dịch tiêu hoá tốt hơn, trẻ có cảm giác no và đói nên ăn ngon hơn, thèm ăn hơn và tiêu hoá tốt hơn.

Lời khuyên cho mẹ khi chăm sóc trẻ dưới 1 tuổi:


Mỗi giai đoạn có một chế độ dinh dưỡng chăm sóc trẻ khác nhau nên các mẹ cần chia ra để đảm bảo chế độ dinh dưỡng của trẻ được hợp lí, cân đối. Loại thức ăn quan trọng nhất cung cấp đầy đủ các loại chất dinh dưỡng và khoáng chất cho trẻ là sữa mẹ và sữa bột.

chế độ dinh dưỡng cho trẻ dưới 1 tuổi

Bạn nên cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn cho đến khi trẻ được 6 tháng tuổi. Hãy cho trẻ bú bất cứ lúc nào trẻ muốn, bất kể là ngày hay đêm và phải đảm bảo ít nhất 8 lần 1 ngày. Bạn có thể cho trẻ ăn thêm nếu như thấy trẻ vẫn còn đói sau khi bú mẹ.

Bạn không nên cho trẻ ăn những loại thức ăn rắn quá sớm vì nó không tốt cho lợi và chiếc dạ dày bé xíu của trẻ.

Ngoài ra, bạn cũng nên nghĩ đến việc bắt đầu cho trẻ ăn dặm. Bạn nên cân nhắc thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn dặm, tốt nhất là khi trẻ khoảng 6 tháng tuổi cũng như tùy thuộc vào các nhu cầu phát triển của trẻ.

Cho trẻ ăn dặm quá sớṃ( trước 4 tháng) không giúp trẻ tăng trưởng nhanh hơn ngược lại có khi còn dẫn đến hậu quả như:
- Có thể mắc phải các nguy cơ về dị ứng thức ăn
- Nếu bạn chọn ăn dặm để thay thế hoàn toàn sữa mẹ hoặc sữa công thức có thể khiến trẻ giảm sức đề kháng, tăng trưởng chậm.
- Hệ tiêu hóa không tốt hoặc một vài trường hợp dẫn đến tiêu chảy do trẻ không tiêu hóa được các thức ăn này.

Cho trẻ ăn dặm muộn cũng khiến trẻ gặp một vài vấn đề về dinh dưỡng như:
-  Tăng trưởng chậm do thiếu năng lượng cần thiết
- Mắc nguy cơ cao về thiếu máu và thiếu sắt
- Bản năng ăn uống bị giảm nếu như trẻ không được bắt đầu ăn dặm trước 7 tháng tuổi. 

Vậy khi nào là lúc tốt nhất cho trẻ bắt đầu ăn dặm, những dấu hiệu sau đây giúp bạn biết được đã đến lúc cho trẻ tập ăn dặm rồi đó:
- Háo hức hoặc nhìn chằm chằm khi thấy thức ăn
Thường xuyên cho tay hoặc cho bất cứ đồ vật nào bé có vào miệng.
Há miệng khi được cho thức ăn.
Thích chơi với các loại thìa, đũa và khuân mặt hớn hở khi có thức ăn.

Có thể cho trẻ ăn thêm 1-2 sau đó là 3-4 bữa bột mỗi ngày, nên cho trẻ tập ăn bột dần dần từ lỏng đến đặc dần, trong đó chế độ bột phải chứa đầy đủ các loại chất dinh dưỡng như: chất bột, chất đạm, canxi, muối khoáng và vitamin.

Mặc dù nhu cầu dinh dưỡng của trẻ trong độ tuổi này khá bất thường, lượng thức ăn và sự ngon miệng của trẻ khác nhau từng ngày, nhưng điều này là hết sức bình thường và không gây ra bất cứ vấn đề nào cho trẻ nếu con bạn phát triển tốt.

Bạn nên nhớ nếu không cẩn thận, chăm sóc trẻ không đúng cách, nguy cơ xuất hiện bệnh tật ở trẻ là rất cao. Cho nên, các bậc cha mẹ cần chú ý nhiều hơn đến việc bổ sung dinh dưỡng cho trẻ và những biểu hiện trong sinh hoạt của trẻ. Hãy lựa chọn một chế độ dinh dưỡng cho hợp lí, cân đối, phù hợp với nhu cầu của con bạn.

 
Design by Wordpress Theme | Bloggerized by Free Blogger Templates | coupon codes